- Login
- Register
Các loại dừa ở Việt Nam khá phong phú với nhiều chủng loại có mặt ở những vùng miền khác nhau. Dù cây dừa đã gắn bó từ lâu với đời sống và sinh kế của người, nhưng nhiều người vẫn không thể phân biệt rõ các giống dừa với nhau. Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn cách phân biệt chi tiết nhất các loại dừa ở Việt Nam theo: chiều cao cây, nguồn gen và ứng dụng.
Dựa vào hình dáng sinh học, Hiệp hội dừa Việt Nam và các đơn vị nghiên cứu giống dừa thường chia dừa thành hai nhóm lớn là: nhóm dừa cao và nhóm dừa lùn.
Nhóm dừa cao bao gồm các giống như:
Nhóm dừa lùn bao gồm:

Dừa xiêm lùn (Nguồn: Internet)

Dừa dứa lùn (Nguồn: Internet)
Ở Bến Tre (cũ) có đến 80,000 ha diện tích đất trồng dừa, chiếm 42% diện tích trồng dừa cả nước. Ngoài Bến Tre, Việt Nam còn nhiều vùng trồng đặc trưng khác như Trà Vinh, Vĩnh Long, Bình Định… do đó có sự đa dạng gioongs dừa khác nhau. Bến Tre hiện ghi nhận khoảng 30 giống dừa, trong đó có cả nhóm dừa lùn kể trên.

Vườn Bến Tre (Nguồn: Internet)
|
Giống dừa |
Giống dừa cao |
Giống dừa lùn |
|
Hình thức thụ phấn |
Thụ phấn chéo |
Tự thụ phấn |
|
Thời gian cho trái |
Cho trái muộn (5-7 năm) |
Cho trái sớm (3-4 năm) |
|
Hình dạng quả |
Trái lớn, số trái/quầy ít |
Trái nhỏ, số trái/quầy nhiều |
|
Khả năng tăng trường & chiều cao của cây |
Tăng trưởng nhanh Cây cao 18 - 20m |
Tăng trưởng chậm Cây thấp 10 - 12m |
|
Đặc điểm gốc cây |
Gốc phình to |
Gốc nhỏ, thẳng |
|
Kích thước cơm dừa |
Cơm dừa dày (1,2-1,3 cm) |
Cơm dừa mỏng (0,7-1 cm) |
|
Hàm lượng dầu |
Cao (65-67%) |
Thấp (<63%) |
|
Chu kỳ khai thác |
50-60 năm |
30-40 năm |
|
Khả năng thích nghi |
Thích nghi tốt với các điều kiện bất thuận của môi trường |
Thích nghi kém với các điều kiện bất thuận của môi trường |
|
Các giống dừa tiêu biểu có tại Việt Nam |
Dừa ta, dừa dâu, dừa bung… |
Dừa xiêm, dừa ẻo, dừa Tam Quan, dừa dứa… |
Trên thế giới có 2 nhóm di truyền chính của dừa: là nhóm Ấn Độ - Đại Tây Dương và nhóm Thái Bình Dương. Nếu xét theo nguồn gốc giống, các giống dừa ở Việt Nam đều thuộc nhóm di truyền Thái Bình Dương.
Dừa Việt Nam có thể chia thành nhóm:
Cách chia giữa: giống tự nhiên/bản địa, giống lai tạo và giống du nhập
Cách chia giữa: giống thông thường và giống có mang gene đột biến.
Dừa tự nhiên là những giống đã tồn tại lâu đời, thích nghi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng và được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu, nhóm giống địa phương bao gồm:
Bộ Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn công nhận giống chính thức vào năm 2016).

Dừa ta (Nguồn: Internet)

Dừa dâu (Nguồn: Internet)

Dừa xiêm đỏ (Nguồn: Internet)

Dừa ẻo (Nguồn: Internet)
Trong đó, dừa ta, dừa dâu thường được trồng với mục đích lấy dầu và chế biến, còn dừa xiêm, ẻo, sáp lại hướng nhiều hơn tới giải khát và du lịch.
Dừa lai là kết quả của quá trình lai tạo có chủ đích giữa dừa lùn và dừa cao, hoặc giữa giống trong nước và giống ngoại nhập để tận dụng ưu điểm của cả hai phía. Các giống như JVA1, JVA2 được Trung tâm Thực nghiệm Đồng Gò và các đơn vị nghiên cứu lai tạo, với tổ hợp lai điển hình như:
|
Giống dừa |
Nhóm hình dáng cây |
Nguồn gen |
Màu sắc |
|
Dừa lai JVA1 |
Dừa lai (cao × lùn) |
Lai (Lùn vàng Mã Lai (mẹ) x Cao Hijo (cha)) |
Giống JVA1 có màu xanh |
|
Dừa lai JVA2 |
Dừa lai (cao × lùn) |
Lai Lùn đỏ Mã Lai (mẹ) và Cao Hijo (cha)) |
Giống JVA2 có màu đỏ cam. |
Dừa lai được các nhà nghiên cứu đánh giá là sinh trưởng, phát triển mạnh, chu vi gốc lớn, số lá xanh trên cây nhiều (18 – 20 lá, trong khi dừa Ta 12 – 15 lá sau 3 năm trồng), ra hoa sớm (3 năm sau khi trồng, trong khi dừa Ta phải mất 4 -5 năm), năng suất cao 1,5 – 2 lần so với dừa địa phương, hàm lượng dầu cao (65 – 68%).

Dừa lai (Nguồn: Internet)
Nhóm dừa có đột biến/biến dị đặc biệt được thể hiện rõ nhất qua giống dừa sáp. Dừa sáp là đặc sản huyện Cầu Kè (Trà Vinh), với đặc điểm cơm mềm, sền sệt, dày, nước rất ít hoặc không có. Mỗi trái khô nặng 1,2 – 1,5 kg, năng suất 40 – 80 trái/cây/năm nhưng chỉ 1 – 2 trái sáp/buồng, tương đương 20–25% trái mang tính chất sáp. Dừa sáp không thể nhân giống từ chính trái sáp vì trái sáp không nảy mầm; phải ươm từ những trái thường trong cùng buồng và không phải cây nào cũng mang được tỷ lệ trái sáp như mong muốn. Trong dừa sáp, nước dừa gần như “biến mất”, cơm biến thành khối sệt dẻo là một dạng biến dị rất đặc biệt về cấu trúc trái, nên trong thực hành người ta thường coi đây là nhóm “giống có đột biến” so với dừa thường.
Dừa dứa cũng được xem là loại dừa có tính đột biến bởi không chỉ nước dừa mà cả lá, hoa, phấn, cơm và vỏ đều thơm mùi lá dứa, được ưa chuộng tại nhiều nước. Trái có nhiều cỡ: nhỏ tương đương dừa xiêm, trung bình như dừa dâu, và to tương đương dừa ta; năng suất 80 – 140 trái/cây/năm, nước 300–450 ml/trái. Hương thơm tỉ lệ nghịch với kích thước: trái càng nhỏ càng thơm, trái càng to hương thơm giảm, nhưng bù lại tỉ lệ nảy mầm của trái to cao hơn (80–90%), trong khi trái nhỏ chỉ 10–20%. Do đó, dừa dứa là đặc sản giải khát, đòi hỏi kỹ thuật chọn trái giống cẩn thận nếu muốn nhân giống lâu dài.
Nhìn chung, việc phân loại theo nguồn gen để nhận biết dừa tự nhiên tạo nền tảng ổn định và bản sắc; dừa lai giải quyết bài toán năng suất – thị trường; còn dừa có tính đột biến tạo ra những sản phẩm độc đáo và có giá trị.

Dừa sáp (Nguồn: Internet)
Ở góc độ sản xuất và tiêu dùng, câu hỏi thực tế nhất với người trồng dừa và doanh nghiệp chế biến vẫn là: giống dừa này để lấy nước hay lấy cơm là chính? Theo kinh nghiệm người trồng, trong các loại dừa ở Việt Nam, nhóm dừa cao được dùng để thu trái khô chế biến và nhóm dừa lùn được dùng để thu trái tươi uống nước.
Trong thực tế sản xuất và kinh doanh, cách phân loại dừa lấy nước hay dừa lấy cơm thường được sử dụng song song với phân loại dừa cao và dừa lùn, bởi vì đa số giống dừa cao vẫn ưu tiên cho cơm/dầu, trong khi đa số giống dừa lùn được định hướng cho thị trường dừa uống nước.
Chủ yếu là dừa cao, tiêu biểu như dừa ta, dừa dâu. Cả hai giống đều có hàm lượng dầu cao (dừa ta 65–67%, dừa dâu 63–65%), cơm dày, trái to hoặc trung bình, rất thích hợp cho ngành công nghiệp ép dầu, cơm dừa nạo sấy, sữa dừa, bột sữa dừa và các sản phẩm chế biến sâu khác.

Cơm dừa (Nguồn: Internet)

Bột dừa sấy (Nguồn: Internet)

Dầu dừa (Nguồn: Internet)
Các loại dừa ở Việt Nam lấy nước chủ yếu là dừa lùn, gồm dừa xiêm xanh, xiêm lục, xiêm lửa, xiêm xanh ruột hồng, lùn vàng, lùn đỏ Mã Lai. Các giống này có trái nhỏ đến trung bình, nhiều nước, vị ngọt, năng suất trái/cây cao, cho trái sớm. Xiêm xanh cho nước 250–300 ml/trái, xiêm lục 250–300 ml, xiêm lửa 280–320 ml, lùn Mã Lai 300–350 ml/trái… phù hợp cho thị trường dừa uống nước tươi và làm nguyên liệu nước dừa đóng chai, đóng hộp.
Dừa dứa (dừa thơm) là giống dừa lùn có đặc trưng mùi thơm lá dứa rõ cả ở nước và cơm, năng suất khoảng 80–100 trái/cây/năm, thích hợp trồng ở vùng đất phù sa, nước ngọt và thường được gắn với khai thác phục vụ giải khát và du lịch.

Nước từ quả dừa (Nguồn: Internet)
Riêng giống dừa lai như JVA1, JVA2 có thể được xem là nhóm “đa dụng”: kết hợp được ưu điểm trái to, cơm dày, dầu cao của dừa cao với năng suất và thời gian cho trái sớm của nhóm dừa lùn, nên vừa có thể khai thác nước (ở giai đoạn trái non), vừa là nguồn nguyên liệu cơm/dầu tốt khi trái già.
Nhóm dừa đặc sản địa phương hay “giống dừa có giá trị kinh tế cao” là mảnh ghép tạo nên sắc màu riêng cho các loại dừa ở Việt Nam.
Dừa sáp Trà Vinh, là một loại dừa đặc ruột, cơm dày, mềm dẻo, béo ngậy, nước ít nhưng sền sệt, giá bán cao gấp nhiều lần dừa thường và được xem là “vua” trong các loại dừa đặc sản hiện nay. Nhóm đặc sản này tuy diện tích không lớn nhưng giá trị trên đơn vị diện tích cao, tạo ra sản phẩm quà tặng cao cấp và thu hút khách du lịch.

Dừa sáp (Nguồn: Internet)
Trên thực tế, việc hiểu rõ các loại dừa ở Việt Nam không chỉ hữu ích với người mua lẻ, mà còn là nền tảng chiến lược đối với doanh nghiệp chế biến. Nhiều doanh nghiệp trong ngành dừa nói chung và Công ty TNHH COMOON nói riêng cũng đang xây dựng chiến lược sản phẩm dựa trên chính cách phân loại này. COMOON lựa chọn dừa đủ 11–12 tháng tuổi ở Bến Tre – giai đoạn được đánh giá là tối ưu về chất lượng nước và dinh dưỡng để sản xuất nước dừa tươi đóng chai phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu. Song song đó, Công ty TNHH COMOON còn phát triển dòng sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ gáo dừa, xơ dừa, thân dừa, biến phần phụ phẩm của quả dừa thành những sản phẩm décor, vật dụng gia đình và quà tặng mang bản sắc Việt.
Tóm lại, các loại dừa ở Việt Nam không chỉ là sự khác biệt ở hình dáng hay công dụng. Khi phân biệt đúng, người tiêu dùng có thể lựa chọn thông minh hơn; nhà phân phối và doanh nghiệp có thể phát triển sản phẩm phù hợp hơn; còn người trồng dừa, các vùng nguyên liệu và thương hiệu Việt sẽ có thêm cơ hội nâng tầm cây dừa trên bản đồ nông sản thế giới.
Nguồn tham khảo:
https://cuhudua.com.vn/cach-phan-biet-giong-dua-dac-tinh-mot-so-giong-dua-co-trien-vong
https://www.ioop.org.vn/chi-tiet-tin-tuc/cac-bo-mon-37/cac-bo-mon-122.html
https://dantocmiennui.baotintuc.vn/chon-giong-dua-cho-hieu-qua-kinh-te-cao-post173618.html